La La Land

Damien Chazelle, ba mươi mốt tuổi, có một CV trong mơ đối với một đạo diễn trẻ: đề cử Oscar phim hay nhất với Whiplash, và giờ đây, bộ phim ca nhạc kinh phí lớn La la Land cũng đang gây bão trên các giải thưởng. Bộ phim ca nhạc này là đề tài ấp ủ từ lâu của Chazelle, người vốn mong muốn trở thành một nhạc công jazz trước khi chính thức chọn hướng đi điện ảnh. Có thể thấy rất nhiều tâm huyết được rót vào; rất nhiều đề tài được chạm tới, từ tình cảm, số phận, ước mơ đến tuyên ngôn nghệ thuật về sự hy sinh của người nghệ sĩ; nhiều yếu tố được đề cập; nhiều cột mốc lịch sử điện ảnh được nhắc đến. Thế nhưng, La la Land thiếu một sự chắc chắn, sự đi tới cùng mà một phim khiêm tốn hơn là Whiplash đã làm được.

Cả hai bộ phim, theo Chazelle, đều nói về “sự giằng  xé của người nghệ sĩ, giữa giấc mơ và sống với nhân bản mình”. Andrew trong Whiplash chia tay bạn gái, vì biết cô sẽ không hiểu được jazz là cuộc sống của anh; và gần cuối phim đã phải hy sinh luôn nhân cách của mình vì mục tiêu. Sebastian (Ryan Gosling) cũng là một gã ương ngạnh, bị đuổi việc nhạc công liên tục vì không chịu chơi những bản Giáng sinh quen thuộc. Nhưng Sebastian, cũng lập dị trong bộ cánh và chiếc xe mui trần cổ, lãng mạn hơn, sống một mình, tự nấu ăn, và không cho em gái ngồi trên chiếc ghế đẩu gỗ cũ kỹ mà Hoagy Carmicheal (có lẽ là một thần tượng jazz của anh) đã từng ngồi lên.

Nghệ sĩ thì cô đơn. Nhất là nghệ sĩ jazz, vì không ai hiểu họ, nhiều người không ưa nhạc của họ. Chẳng thế mà Mia (Emma Stone), cô bạn gái mới quen trong lần đi chơi đầu tiên đã thẳng thắn: “I hate jazz”. Điều đó chẳng mảy may làm những chàng như Seb tổn thương hay bất ngờ, mà còn làm tăng lòng kiêu hãnh của người hùng tự phong, người sẽ cứu jazz khỏi trạng thái ngáp chết như bây giờ. Chàng nuôi mộng mở một câu lạc bộ jazz để chơi thứ nhạc jazz “thật sự”, dù công việc đánh đàn nhạc Giáng sinh hiện tại bấp bênh, không đủ để chi trả cho căn hộ tồi tàn.

Còn nàng thì dệt mộng trở thành minh tinh Hollywood, và điều gần nhất với giấc mơ vươn tới ngôi sao đó là một công việc cashier ở một quán cà phê mà thỉnh thoảng một siêu sao điện ảnh ghé đến. Giữa những ca làm là những cuộc audition (thử vai) thất bại cho những vai sáo rỗng trong những bộ phim truyền hình. Ban đêm, nàng ngủ trong nhà trọ với mấy cô bạn gái, cũng xinh xắn, chân dài và (có lẽ) ước mơ cao dưới sự phù hộ của bức poster nữ diễn viên Ingrid Bergman trên tường.

Và chắc chắn hai người phải gặp nhau, như bất kỳ phim ca nhạc lãng mạn nào khác. Cách mà họ gặp nhau lần đầu khá ấn tượng. Giữa một khung trời trong veo của LA. Time card cho biết đó là mùa đông, nhưng khác biệt gì với một thành phố lúc nào cũng nắng đẹp? Giữa một đám kẹt xe trên xa lộ, một hình ảnh đặc sản của Los Angeles, một cô gái bước ra cất lời hát, và từng người một nối theo, hòa ca và một rừng xe trở thành sân khấu. Một bài hát mở đầu ấn tượng, mang phong cách cổ điển của thể loại nhạc kịch. Khi giây phút thoát ly hiện thực kết thúc, ta thấy hai con người rất thực là Seb và Mia, chàng tức giận gióng còi inh ỏi khi nàng không chịu lái xe đi nhanh giùm (mà bận trả lời điện thoại).

Lần gặp thứ hai cũng không hẳn khá hơn, tuy có một chút “điện” khi nàng bị hớp hồn bởi tiếng đàn (hay là bởi sự nổi loạn của chàng?). Ngẫu nhiên, chàng cũng bị sa thải ngay lúc đó.

Khi họ thực sự nói chuyện với nhau cũng là lúc bắt đầu chuỗi những khung cảnh thơ mộng, những bài hát ngọt ngào và điệu vũ bắt mắt, tuy họ vẫn phủ nhận cảm giác cho nhau. Cũng phải, vì nàng không còn “available”, cho đến khi nàng bỏ anh chàng bạn trai “ổn định” ở lại trong nhà hàng sang trọng để chạy theo anh chàng hippie.

Cảnh Mia đứng trước máy chiếu tìm kiếm Seb trong một rạp phim cũ kỹ đang chiếu Rebel Without a Cause không phải là tình cờ. Bộ phim họ xem bị ngưng nửa chừng vì phim nhựa hư! Ít lâu sau, khi cặp đôi đi ngang qua rạp phim, người xem thấy rằng rạp đã đóng cửa.

La la Land là một chữ “hoài niệm” viết hoa to tướng, cho một thời vàng son đẹp như mơ sáu mươi năm về trước. Rất nhiều, rất nhiều những vay mượn và liên tưởng đến các bộ phim kinh điển, trong đó có cảnh cột đèn của Singing in the Rain . Người viết còn hạn hẹp về kiến thức phim kinh điển nên không thể kể hết, nhưng chính đạo diễn cũng không giấu ý định tôn vinh những tác phẩm mà anh ngưỡng mộ.

Đỉnh cao của sự mộng mơ là khi hai người đột nhập vào đài quan sát thiên văn để ngắm sao, và bay lên thành hai ngôi sao.

Nửa sau của bộ phim, khi hai người có cuộc cãi vã đầu tiên trên bàn ăn, cũng là lúc câu chuyện thật sự cất cánh. Như bất cứ chuyện tình nào, mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh, và đó là điều tốt, vì họ cần nhau để nhắc nhau về niềm đam mê và giấc mơ của mỗi người. Đây cũng là lúc cho thấy tài năng diễn xuất của Stone và Gosling, ngoài việc hai người phải học đàn và học nhảy cho thể loại phim nhiều đòi hỏi này. Gosling gần đây chuyên trị những vai “máu lạnh,” rất hợp vai người nhạc công jazz chứa sự tra tấn nội tâm khi anh phải (nói không quá) bán rẻ linh hồn mình để chơi synthesizer trong một ban nhạc ăn khách mà ca sĩ chính là ngôi sao R&B John Legend. Còn Emma Stone, với vẻ đẹp thân thiện và tính cách “bay”, đã dũng cảm dựng vở kịch độc diễn để hết mình với nghệ thuật và “máu điên” của mình. Tất nhiên nhờ sự động viên của Sebastian.

Vở kịch thất bại thảm hại nhưng đưa Mia vào mắt xanh của một giám đốc casting “thứ dữ”. Cô được mời đến một buổi audition đặc biệt, nơi cô được tự do kể một câu chuyện bất kỳ. Tất nhiên đây là dịp để Chazelle bước vào với tuyên ngôn nghệ thuật của mình. Mia kể về người dì nghệ sĩ bohemian đã truyền cảm hứng và phương châm sống cho cô, “A bit of madness is key to give us new colors to see” và “Here’s to the heart that ache/Here’s to the mess we make”. Rất nhiều tinh thần nghệ sĩ, tinh thần jazz trong hai câu nói đó. Thế nhưng, xuyên suốt bộ phim, người xem thấy một cái đẹp trau chuốt, chỉn chu. Cái madness và mess rõ hơn trong Whiplash. Ở đây, không rõ đạo diễn tin vào điều gì. Trong phim có lời khuyên của Keith (John Legend) dành cho Sebastian: “Làm sao cậu có thể cách mạng được nếu cậu cứ truyền thống thế?”. Sebastian, sau khi tạm nhượng bộ với lời khuyên đó, đã trở lại với ước mơ ấp ủ của mình, trở lại làm chàng cù lần. Còn đạo diễn Chazelle cũng trung thành với chất hoài cổ. Bộ phim, ngoài hình ảnh chiếc iPhone, xe Prius khá mới của Mia và nhạc cụ điện tử trong ban nhạc của Keith, thì không có bóng dáng của thời đương đại. Có lẽ những con mắt soi kỹ sẽ thấy kỹ thuật làm phim hiện đại được che dấu đâu đó. Điều mà anh đạo diễn trẻ này làm tốt hơn Sebastian là chiếm được một lượng khán giả (và giải thưởng) lớn; cho nên có lẽ Seb không phải là hiện thân của tác giả.

Cái giá mà Seb và Mia trả có lẽ không nhỏ, khi họ gặp lại nhau sau năm năm không liên lạc. Về mặt hình ảnh, có lẽ trường đoạn họ “gặp” nhau là một thành công, tương tự như trường đoạn đầu phim hoạt hình Up: rất nhiều cảm xúc, mơ ảo và thực, hình ảnh đầy hoài niệm. Đó là điều kỳ diệu chỉ có điện ảnh, và nghệ thuật nói chung, đem lại. Trong phim, đó là tiếng đàn, cũng một khúc nhạc lúc họ gặp nhau lần đầu, và cũng là điều khán giả muốn thấy. Nhưng những tia lấp lánh đã tàn là lúc người trong và ngoài cuộc thức dậy, bùi ngùi.

Phim kết thúc bằng hai ánh mắt: một nốt nhạc nhiều dư ba. Motif của cốt truyện này không mới; có thể nói việc dựng khoảng trống năm năm có vẻ hơi quá tay và quá sức. Tuy mỗi người đã đạt được giấc mơ năm nào, nhưng với bối cảnh cuộc sống hiện đại, có cần phải đánh đổi quá nhiều như thế? Người làm phim có cần lấy nước mắt khán giả theo cách đó không? Nếu tác giả thật sự muốn nói những điều anh cho thấy, anh cần thêm sự thuyết phục và nhất quán. Bằng cách nào thì người viết khó diễn đạt, có lẽ “tiết giảm” là từ tốt nhất!

 

Our Rating

9 Score